KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH, QUYẾT TÂM
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN ĐỐI NGOẠI,
NGOẠI GIAO TOÀN DIỆN, HIỆN ĐẠI,
MANG ĐẬM BẢN SẮC “CÂY TRE VIỆT NAM”
Trích bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Lịch sử loài người và các tư tưởng lớn về chính trị quốc tế, đặc biệt là phương pháp luận Mác - Lê-nin đã chứng minh thế giới là một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất của các mặt đối lập, với những mối quan hệ lớn mà sự vận động và phát triển của nó tuân theo quy luật biện chứng. Trong đó, các quốc gia, dân tộc đều phải giải quyết mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa bản sắc, lợi ích của quốc gia - dân tộc và mong muốn cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và phát triển bởi các quốc gia, dân tộc là bộ phận không thể tách rời khỏi thế giới, không thể tồn tại biệt lập mà phải hội nhập, hợp tác, giao lưu.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ giang sơn, gấm vóc, bảo vệ văn hóa, con người Việt Nam đã hun đúc, bồi đắp, kết tinh nên bản sắc riêng, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam phản ánh bản sắc của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với thế giới và thông qua tương tác với bên ngoài để làm giàu thêm bản sắc của mình, rất độc đáo, sáng tạo, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ giang sơn, gấm vóc, bảo vệ văn hóa, con người Việt Nam đã hun đúc, bồi đắp, kết tinh nên bản sắc riêng, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam phản ánh bản sắc của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với thế giới và thông qua tương tác với bên ngoài để làm giàu thêm bản sắc của mình, rất độc đáo, sáng tạo, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về công tác đối ngoại, ngoại giao, trong gần 40 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng: phá thế bị bao vây, cấm vận, tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thuận lợi cho công cuộc đổi mới; tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Đối ngoại, ngoại giao đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.
Tuy nhiên, công tác đối ngoại, ngoại giao của chúng ta thời gian qua cũng còn một số hạn chế; có việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt, rất cần nhìn nhận, đánh giá để chúng ta rút ra bài học kinh nghiệm, định rõ phương hướng, cách thức làm tốt hơn trong thời gian tới.
Trước hết, phải khẳng định, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển của mình đều phải xử lý hai vấn đề cơ bản: đối nội và đối ngoại. Hai vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thế và lực cho nhau, trong đó nội lực đóng vai trò quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Bởi vậy, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ, giành lại giang sơn, độc lập, chủ quyền, ông cha ta luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, lấy hòa bình, hòa hiếu và hữu nghị làm cốt lõi, đề cao lòng nhân ái, vị tha và bao dung, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam đầy hào khí, giàu tính nhân văn.
Truyền thống và bản sắc của ngoại giao Việt Nam thể hiện ở sự kiên định về mục tiêu và nguyên tắc; linh hoạt và trí tuệ trong mọi hoạt động ngoại giao; kiên trì thực hiện phương châm giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Tinh thần yêu nước và ý chí vươn lên tự do, độc lập, yêu chuộng hoà bình và đấu tranh cho hoà bình, thủy chung và hoà hiếu, gây dựng và củng cố hữu nghị, đấu tranh cho lẽ phải, công lý và chính nghĩa đã tạo nên hồn cốt và khí phách cho đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập năm 1945 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam chính thức trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác đối ngoại đã kết hợp đồng bộ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; cùng với quốc phòng, an ninh, kinh tế và các lĩnh vực trong hệ thống chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, nắm bắt quy luật vận động của lịch sử thế giới, với góc nhìn khách quan, nhiều chiều, Người đã có những đánh giá và dự báo đúng đắn về cục diện và xu thế phát triển của tình hình thế giới, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với dòng chảy của thời đại, liên kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản quốc tế đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kết hợp của văn hóa Đông - Tây, với tư tưởng phải “luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”, “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “giúp bạn là tự giúp mình”, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại. Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là khả năng tạo dựng thời cơ và tận dụng chớp thời cơ, là ngoại giao “tâm công”, thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Đặc biệt, cách ứng xử khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ với các nước lớn nhằm bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong bối cảnh đất nước ở thế “ngàn cân treo sợi tóc” chính là bài học vô giá về sự uyển chuyển trong ứng xử tình thế cho cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã kiên định vận dụng, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đạt những thành tựu quan trọng, toàn diện, đóng góp tích cực và hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, thế giới ngày nay đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường; bên cạnh những thuận lợi cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới, chưa có tiền lệ. Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thoả hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn”. Tình hình thế giới thời gian qua còn diễn biến phức tạp, nhanh chóng hơn so với dự báo. Dịch bệnh Covid-19 cùng với xung đột Nga - Ucraina, căng thẳng tại một số khu vực tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của kinh tế - chính trị thế giới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn có phần gay gắt hơn, toàn diện hơn, đẩy nguy cơ xung đột lên cao. Thế giới có xu hướng đa cực, phân tuyến rõ ràng hơn trên nhiều mặt, tác động tới tập hợp lực lượng, liên kết quốc tế và cục diện quốc tế nói chung. Nguy cơ chạy đua vũ trang, phổ biến và cạnh tranh vũ khí hạt nhân, cạnh tranh trên không gian và trên vũ trụ quay trở lại, cùng với sự gia tăng các vấn đề an ninh phi truyền thống, gây tâm lý lo ngại và căng thẳng trên toàn cầu.
Còn nữa
"Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng,
quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng
giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng"
Trích bài viết của TBT Nguyễn Phú Trọng nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2024)
Tiếp theo kì trước
-----
Phần thứ hai
ĐẢNG LÃNH ĐẠO KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
CHIẾN TRANH; TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ; XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TA NGÀY CÀNG ĐÀNG HOÀNG HƠN, TO ĐẸP HƠN
Sau khi đất nước được thống nhất, nước ta phải đối mặt với nhiều hậu quả rất nặng nề của 30 năm chiến tranh để lại. Để khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1976 - 1980 và 1981 - 1985. Qua đó, hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, thủy lợi từng bước được khôi phục. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được chăm lo phát triển, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đất nước đã hòa bình, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn của Nhân dân, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, từng phần trong nông nghiệp, công nghiệp và từng bước hình thành Đường lối đổi mới đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", "đổi mới tư duy" đã đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.
Sau Đại hội VI, Đảng đã từng bước hoàn thiện, cụ thể hóa đường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội. Những năm 90 của thế kỷ XX, vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam, Dân tộc Việt Nam đã kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khóa VI đến khóa XIII đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề cơ bản, hệ trọng của Đảng và sự phát triển của đất nước.
Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta đã xác định cần phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hóa; hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra được sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; lực lượng sản xuất rất thấp, lại phải trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, do đó nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này cũng phải có sự chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.
Đưa ra khái niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
(Còn nữa)
ĐẢNG LÃNH ĐẠO-NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI!
Xuyên suốt trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc đến vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng và khẳng định đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là quy luật đặc thù, riêng có của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, ngay từ lúc mới thành lập, Đảng đã gắn bó mật thiết với dân, sớm tập hợp, đoàn kết toàn dân, kết thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc.
Bằng việc chắt lọc và khái quát hóa, hệ thống hóa các sự kiện lịch sử tiêu biểu, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã minh chứng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn phong phú, sinh động và những thành tựu nổi bật của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ vai trò lãnh đạo, vị thế, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc trong lòng dân tộc; nhận được sự tin tưởng, ghi nhận của bạn bè quốc tế; đồng thời, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, phản động.
Trong dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), các Đảng Cộng sản ở Trung Quốc, Cuba, Lào, Triều Tiên đều chung nhận định: 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết dẫn dắt nhân dân Việt Nam hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội không ngừng giành được những thành tựu mới.
Ngay cả những quốc gia không cùng thể chế chính trị cũng sẵn sàng thúc đẩy mối quan hệ với Việt Nam thông qua kênh đối ngoại Đảng. Những chuyến thăm mới đây của lãnh đạo các cường quốc lớn trên thế giới theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đạt nhiều thành tựu mang dấu ấn lịch sử là minh chứng sinh động khẳng định tầm vóc của Đảng ta.
2. Sau khi khái lược những chặng đường hào hùng và truyền thống vẻ vang của Đảng, bài viết của Tổng Bí thư đã luận giải sâu sắc phương thức lãnh đạo của Đảng, đồng thời khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất, ngay từ đầu đảm đương sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và có đường lối cách mạng đúng đắn; là chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; có khả năng đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh làm cách mạng, hợp thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Rõ ràng, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Bài viết của Tổng Bí thư cũng bàn nhiều đến việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Nội dung đã làm rõ những bài học kinh nghiệm về việc đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc được rút ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII, đó là: Phải luôn luôn nắm vững và nghiêm túc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc và chủ trương, đường lối của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; phải bám sát Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xây dựng và thực hiện cho bằng được chương trình công tác hằng năm, hằng quý, hằng tháng, hằng tuần theo đúng kế hoạch, đồng thời nhạy bén, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào chương trình công tác những công việc hệ trọng, phức tạp, mới phát sinh trên các lĩnh vực; tập trung ưu tiên ban hành đồng bộ và có chất lượng hệ thống pháp luật, các quy định, quy chế, quy trình công tác; tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải chấp hành nghiêm túc các quy chế, chế độ công tác, hoạt động; từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần phát huy cao độ tinh thần nêu gương, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình.
3. Trong những năm tới, tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức lớn. Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt bài viết đã chỉ ra nhiều giải pháp để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị nặng nề trong nửa cuối nhiệm kỳ đại hội và những năm tiếp theo.
Theo đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, tiêu cực... Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương; tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để "không thể, không dám, không muốn tham nhũng".
Phát huy cao độ vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở quan điểm “dân là gốc”, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Niềm tin đó thể hiện ở sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: "Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng! Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
Theo Báo QĐND
VĂN BẢN MỚI CỦA TỈNH
Trích Nghị quyết số 39-NQ/TU, ngày 05/4/2024 của
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, về xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Hà Giang đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Giai đoạn 2024 - 2030
Một số chỉ tiêu cụ thể
- Nâng chỉ số phát triển con người Hà Giang (HDI) đạt mức trung bình so với cả nước (0,8 điểm).
- 100% các trường phổ thông dân tộc nội trú ở trung tâm các huyện có nhà đa năng và sân thể thao.
- Xây dựng đề án bảo tồn tiếng nói và chữ viết của một số dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
- 100% các địa bàn trọng điểm về du lịch xây dựng và thực hiện hiệu quả Quy chế quản lý kiến trúc truyền thống.
- Đề nghị UNESCO đưa Nghệ thuật Khèn của người Mông ở Hà Giang vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- Hằng năm, phân bổ kinh phí cho văn hóa, phấn đấu đạt 2% tổng chi ngân sách địa phương.
- 100% công chức văn hóa - xã hội cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ về văn hóa.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người; tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang
Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo tập trung huy động sức mạnh tổng hợp, sáng tạo của cả hệ thống chính trị trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác tuyên truyền về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của tỉnh trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị phải xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên trong công tác lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; đưa kết quả lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người ở mỗi cấp vào tiêu chí đánh giá tổ chức đảng hằng năm.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với việc triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang đáp ứng yêu cầu phát triền bền vững.
2. Xây dựng con người Hà Giang phát triển toàn diện
Nghiên cứu, xác định và cụ thể hóa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp với điều kiện thực tiễn của Hà Giang.
Phát huy đặc trưng của con người Hà Giang “đoàn kết, thân thiện, nghĩa tình, bản sắc, sáng tạo và hội nhập”, xác định đây là nền tảng, động lực xây dựng tỉnh Hà Giang phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tám lời Bác Hồ căn dặn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang. Chú trọng khơi dậy, tôn vinh, giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc.
Đẩy mạnh triển khai Đề án nâng cao chất lượng giáo dục tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2023 - 2030. Phát huy vai trò nòng cốt của hệ thống giáo dục, các tổ chức đoàn, hội, đội trong giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống của thế hệ trẻ; lựa chọn, kết nối với những nhân vật có sức ảnh hưởng, khả năng truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần ham học, ham đọc, phát triển tư duy sáng tạo trong thanh, thiếu niên. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đi đôi với đẩy mạnh giáo dục chất lượng cao, coi trọng giáo dục văn hóa, truyền thống, lịch sử, pháp luật, kỹ năng sống, xóa bỏ hủ tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh. Tiếp tục thu hút các nguồn lực để xây dựng và phát triển các quỹ khuyến học, khuyến tài. Củng cố, phát triển của các mô hình hiệu quả, như: “Dòng họ học tập”, “Đơn vị học tập”, “Gia đình học tập”, hướng tới “Xã hội học tập”.
Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, nòng cốt là Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp trong việc đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân, góp phần xây dựng con người Hà Giang sống kỷ cương, thượng tôn pháp luật.
Thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, chú trọng nâng cao chất lượng dân số, chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; triển khai các dự án phòng, chống suy dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em; tổ chức các giải đấu thể thao, xây dựng và duy trì các cơ sở hạ tầng thể dục, thể thao, góp phần nâng cao thể trạng, tầm vóc con người Hà Giang.
Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật trong nhân dân. Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để mỗi cá nhân phát triển năng khiếu và tạo cảm hứng trong nghệ thuật sáng tạo.
3. Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị; phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa
Xây dựng văn hóa trong Đảng đảm bảo chuẩn mực “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải là hạt nhân đi đầu trong xây dựng văn hóa tại địa phương, cơ quan, đơn vị; là trung tâm đoàn kết, tấm gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Mỗi đảng viên, công chức, viên chức cần nhận thức rõ và thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Xây dựng chuẩn mực văn hóa của các cơ quan trong hệ thống chính trị, đảm bảo môi trường làm việc thân thiện và đạt hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cần phát huy tinh thần đoàn kết, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật, kỷ cương, đổi mới tác phong, lề lối làm việc, thực hiện đạo đức công vụ, Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Đẩy mạnh thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với bài trừ các hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh ở mỗi gia đình, thôn, tổ dân phố, thực hiện tốt hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố và các quy định của pháp luật. Quan tâm nâng cao văn hóa ứng xử, chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển phong trào xây dựng gia đình văn hóa, vun đắp những giá trị cốt lõi của gia đình “ấm no, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội về phòng, chống bạo lực gia đình. Quan tâm cung cấp ngày càng tốt hơn, toàn diện hơn các hoạt động hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, đảm bảo mỗi người đều có cơ hội phát triển toàn diện, vươn lên làm chủ cuộc sống.
Tăng cường xây dựng văn hóa học đường; quan tâm giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Gắn việc xây dựng và tổ chức văn hóa học đường với việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật cho thanh, thiếu niên.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các nghị quyết chuyên đề về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn và phát triển du lịch.
Quan tâm, nghiên cứu hỗ trợ việc lưu giữ, bảo tồn ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Xây dựng đề án bảo tồn ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số; sưu tầm những tài liệu cổ để giới thiệu, trưng bày tại Bảo tàng tỉnh; tổ chức các lớp truyền dạy tiếng nói và xây dựng các câu lạc bộ sinh hoạt tiếng dân tộc thiểu số. Các cơ quan truyền thông xây dựng các sản phẩm và tuyên truyền bằng tiếng dân tộc thiểu số đảm bảo giữ gìn giá trị nguyên gốc, hạn chế pha trộn tiếng nói của dân tộc khác.
Bảo tồn kiến trúc truyền thống, các công trình văn hoá, công trình lịch sử. Vận động người dân làm nhà ở theo kiến trúc truyền thống. Xây dựng và thực hiện Quy chế quản lý kiến trúc để bảo tồn kiến trúc truyền thống tại các địa bàn trọng điểm về phát triển du lịch.
Quan tâm đầu tư; đảm bảo các thôn, tổ dân phố đều có Nhà văn hóa và duy trì việc sinh hoạt, thường xuyên của cộng đồng dân cư gắn với việc tổ chức truyền dạy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc tại địa phương. Khuyến khích đồng bào sử dụng trang phục truyền thống của dân tộc mình, nhất là vào các dịp lễ hội và sinh hoạt cộng đồng; tổ chức các hoạt động tôn vinh giá trị trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số. Tuyên truyền, quảng bá về nét đẹp, chất liệu, quá trình hình thành của trang phục, trang sức truyền thống. Bảo tồn các làng nghề truyền thống về thủ công, mỹ nghệ, thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm như trang phục, trang sức truyền thống để phục vụ phát triển du lịch.
Xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia về Nghệ thuật Khèn của người Mông ở Hà Giang để đề nghị UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đẩy mạnh công tác bảo tồn văn hóa ẩm thực truyền thống các dân tộc, các làn điệu dân ca, dân vũ, hoạt động tín ngưỡng dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số. Vận động người dân tích cực tham gia phục dựng các lễ hội truyền thống, các lễ nghi, tín ngưỡng truyền thống. Tôn vinh, bảo vệ giá trị đạo đức, nhân văn của tín ngưỡng truyền thống, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động của đạo lạ, tà đạo. Phát huy vai trò của nghệ nhân dân gian trong các hoạt động bảo tồn văn hóa. Tổ chức các đội văn hóa, văn nghệ truyền thống tại các thôn và khuyến khích hoạt động theo hướng gắn với phục vụ phát triển du lịch.
Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Sử dụng công nghệ số để tạo ra các nền tảng trực tuyến cho việc lưu trữ, chia sẻ, giới thiệu về văn hóa cộng đồng các dân tộc và các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh, khai thác tối đa hiệu quả hoạt động của Bảo tàng tỉnh, Thư viện tỉnh. Động viên nhân dân tích cực khởi nghiệp, phát triển sản xuất, kinh doanh và có ý thức xây dựng thương hiệu sản phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái.
Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin xấu độc, các văn hóa phẩm độc hại, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị, thuần phong mỹ tục; giữ gìn không gian văn hóa, xây dựng, củng cố và phát triển vành đai văn hóa biên cương, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
Triển khai hiệu quả các chính sách về văn hóa, thường xuyên rà soát, đề xuất, bổ sung kịp thời chính sách mới phù hợp với điều kiện của tỉnh và tính chất đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật.
Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đội ngũ những người làm văn hóa, hoạt động văn hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong đó, coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, văn học - nghệ thuật; nghiên cứu, ban hành chính sách đặc thù để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa, bồi dưỡng các nghệ sĩ, nghệ nhân tài năng; quan tâm phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ là người dân tộc thiểu số.
Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, quảng bá, nghiên cứu, phê bình các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Chú trọng nâng cao chất lượng nghệ thuật biểu diễn theo hướng chuyên nghiệp, bản sắc.
Tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa và sử dụng hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm nguồn lực từ ngân sách Nhà nước để đầu tư xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang. Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở theo hướng đồng bộ, có quy mô và bản sắc; phát huy hiệu quả, công năng sử dụng.
Tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ. Kịp thời chỉ đạo xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm trong các hoạt động văn hóa, dịch vụ, thông tin, xuất bản, nhất là các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nghệ thuật.
6. Chủ động, tăng cường quảng bá, hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa
Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chiến lược ngoại giao văn hóa. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn sự tác động tiêu cực từ quá trình hội nhập về văn hóa, nhất là sự xâm nhập của những yếu tố không phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương, dân tộc. Nghiên cứu cơ chế thu hút các chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế tư vấn phát triển văn hóa Hà Giang.
Tích cực tổ chức và tham gia các hoạt động hợp tác, giao lưu, nghiên cứu về văn hóa với các tỉnh, thành phố trong nước, các nước và các tổ chức quốc tế. Chủ động đăng cai tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch cấp khu vực, toàn quốc nhằm thu hút sự tham gia của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật, các nghệ nhân, nghệ sĩ và du khách đến với Hà Giang. Tăng cường quảng bá, trao đổi các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, du lịch của tỉnh tại các hội chợ khu vực, trong nước và nước ngoài.
Đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại về văn hóa gắn với bảo vệ an ninh văn hóa, thực hiện tốt mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, công tác đối ngoại nhân dân, đặc biệt là các khu dân cư trên tuyến biên giới.
Nghị quyết này được phổ biến đến chi bộ.
THÔNG TIN TRONG HUYỆN
Khai mạc Lễ hội Khèn Mông lần thứ 9 và trình diễn diễu hành đường phố huyện Đồng Văn
Tối ngày 19/4/2024, Để thiết thực kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024) và ngày Quốc tế lao động (01/5), huyện Đồng Văn tổ chức khai mạc Lễ hội Khèn mông lần thứ IX và trình diễn diễu hành nghệ thuật đường phố năm 2024.
Dự buổi lễ có các đồng chí Thào Hồng Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Trần Đức Quý, ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Nguyễn Tiến Dũng, Bí thư Huyện uỷ Đồng Văn; cùng dự có lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, lãnh đạo huyện Đồng Văn, Mèo Vạc và đông đảo bà con nhân dân và du khách thập phương.
|
Trước khi đến với chương trình nghệ thuật trong đêm khai mạc các đại biểu, du khách và nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Văn đã được thưởng thức chương trình diễu hành đường phố với sự tham gia của các đoàn đại diện cho các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị và các câu lạc bộ trên địa bàn huyện. Các đoàn tham gia trình diễn với các mô hình biểu tượng về sản phẩm tiêu biểu của địa phương, đơn vị và dàn dựng bằng hình thức sân khấu hoá với thời lượng 02 phút. Cách thức thể hiện phong phú, đa dạng chương trình đã nhận được sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách. Đây cũng là năm đầu tiên huyện Đồng Văn tổ chức lễ hội Khèn Mông và trình diễn diễu hành đường phố.
Tại Lễ khai mạc diễn ra chương trình nghệ thuật đặc sắc với chủ đề “Tiếng Khèn trên mây” được chia làm 2 phần: Huyền tích âm thanh cội nguồn và Tình đá. Nội dung giới thiệu ý nghĩa của cây khèn Mông đối với đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Mông trên vùng Cao nguyên đá, các tác phẩm ca ngợi về quê hương, đất nước con người Hà Giang và quê hương Đồng Văn trong quá trình phát triển. Chương trình được dàn dựng công phu, hoành tráng nội dung hấp dẫn, bay bổng xen kẽ giữa âm nhạc truyền thống và hiện đại. Bên cạnh sự tham gia của các ca sỹ, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Hoa lê trắng, các nghệ nhân và các em học sinh trên địa bàn, lễ hội còn có sự góp mặt các tiết mục của hai huyện Malypho và huyện Phú Ninh, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Chương trình đã phản ánh được đầy đủ bản sắc văn hoá dân tộc Mông trên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn mang đến một không gian văn hóa đa dạng, độc đáo, đa sắc màu.
Chương trình diễu hành đường phố trong Lễ hội Khèn Mông |
Lễ hội khèn mông lần thứ 9 được diễn ra trong vòng 2 ngày (từ ngày 19 – 20 tháng 4) với các hoạt động sôi nổi, hấp dẫn như: hội thi khèn, thi chim hoạ mi, thi xếp bờ rào đá, thi các hoạt động sinh hoạt văn hoá truyền thống dân tộc, thi trình diễn trang phục truyền thống, thi dệt vải lanh và thi các môn thể dục, thể thao của đồng bào các dân tộc. Cùng với đó, Ban tổ chức còn trưng bày không gian văn hóa tại các gian hàng, giới thiệu sản phẩm ẩm thực địa phương, giới thiệu các hoạt động trong đời sống văn hóa đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện. Thông qua lễ hội góp phần phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc và góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, quảng bá, giới thiệu hình ảnh, quê hương, con người Đồng Văn đến bạn bè trong nước và quốc tế để thúc đẩy phát triển du lịch - dịch vụ.
Thiện Ngay - TTVH,TT&DL
Đồng Văn khánh thành nhà văn hóa tổ 4
Sáng ngày 20/4/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn Đồng Văn đã tổ chức khánh thành Nhà Văn hóa tổ 4 và ra mắt các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian tuyến phố đi bộ kéo dài.
Dự buổi lễ có đồng chí Thào Hồng Sơn - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Trần Đức Quý - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các đồng chí Thường trực Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện, các ban, ngành, đoàn thể của huyện; lãnh đạo thị trấn Đồng Văn cùng bà con nhân dân tổ 4, thị trấn Đồng Văn.
Tổ dân phố 4, thị trấn Đồng Văn là địa bàn có 69 hộ với trên 300 nhân khẩu, có nhà Văn hóa được xây dựng từ khoảng năm 1973, quy mô 3 gian theo kiến trúc của địa phương nằm trong khu vực bảo vệ của di tích phố cổ Đồng Văn, sau thời gian dài sử dụng, công trình đã xuống cấp cần được đầu tư xây dựng. Dự án Nhà Văn hóa, thể thao tổ 4, thị trấn Đồng Văn được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt tại Quyết định số 207/QĐ-UBND, ngày 15/9/2023, với tổng mức đầu tư là 1.480 triệu đồng; quy mô diện tích khuôn viên xây dựng khoảng 540 m2, bao gồm các hạng mục: Nhà Văn hóa, thể thao; Hội trường; Bậc thang đá đường dẫn vào nhà văn hóa; sân vườn; kè xếp hàng rào đá và các hạng mục phụ trợ khác...
Sau 7 tháng thi công, cùng với sự quan tâm sát sao của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan ban ngành của huyện, đến nay công trình cơ bản đã hoàn thành, sẵn sàng đưa vào sử dụng. Việc hoàn thành dự án quan trọng này đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của toàn thể nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là nhân dân tổ 4; đây sẽ là nơi tổ chức hội họp cộng đồng, giao lưu, gìn giữ, bảo tồn và phát huy nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của vùng cao nguyên núi đá Đồng Văn.
Đức Chung - TTVHTT&DL
GƯƠNG NGƯỜI TỐT - VIỆC TỐT
* Bí thư chi bộ gương mẫu làm kinh tế giỏi
Gương mẫu, trách nhiệm đi đầu trong mọi phong trào thi đua, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ các hộ dân trong thôn cùng làm giàu, đó là anh Mua Mí Ly, Bí thư chi bộ thôn Ma Xí A, xã Má Lé, huyện Đồng Văn luôn được bà con yêu mến, quý trọng, anh là tấm gương sáng trong phong trào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo tại địa phương.
Thôn Má Xí A có hơn 60 hộ, với trên 340 nhân khẩu, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn.Trước tình hình đó, anh Ly đã tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con, tích cực vận động nhân dân trong thôn đổi mới cách nghĩ, cách làm và phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển kinh tế. Nhận thấy đất đai phù hợp trồng các loại cây dược liệu ngắn ngày. Để bà con tin và làm theo, gia đình anh đã mạnh dạn trồng thử trên 0,3 ha gừng địa phương, xen canh những cây ăn quả khác như cây ớt gió, cây dưa hấu; sau một năm thực hiện mô hình trồng gừng của gia đình anh đã mang về thu nhập từ 120 đến 150 triệu đồng.
Từ hiệu quả mô hình trồng gừng mang lại cho gia đình, anh đã vận động người dân trong thôn chuyển đổi các mảnh vườn tạp chuyển sang trồng gừng và xen canh những cây ngắn ngày nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt anh cũng tích cực vận động bà con trong thôn nhất là những hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được anh giúp đỡ về giống, kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ bao tiêu sản phẩm. Nhờ vậy, đến nay toàn thôn đã có trên 6 ha gừng địa phương, nhiều hộ dân coi cây gừng trở thành cây trồng chủ lực để thoát nghèo. Hiện thôn Má Xí A đã có nhiều hộ gia đình có thu nhập khá giả, tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm khoảng 6,4 %.
Với sự cố gắng của cá nhân, Bí thư chi bộ thôn Ma Xí A luôn gương mẫu, tận tâm trong công việc, hết mình vì tập thể và đã đóng góp rất nhiều trong công tác vận động nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Anh cũng chính là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là chỗ dựa quan trọng của cấp ủy, chính quyền trong tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Anh Mua Mí Ly là tấm gương sáng cho mọi người học tập và noi theo.
Thiện Ngay
ĐỊNH HƯỚNG MỘT SỐ NHIỆM VỤ
TRỌNG TÂM THÁNG 5/2024
1. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
-Tuyên truyền, quán triệt triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, của tỉnh trọng tâm là:
+ Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 10/4/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định và phát triển bền vững ngành thủy sản. Trong đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp về phát triển bền vững ngành thuỷ sản, chống khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
+ Nghị quyết số 39-NQ/TU, ngày 05/4/2024 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Giang đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giai đoạn 2024-2030.
+ Chương trình số 57-CTr/TU, ngày 11/4/2024 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
+ Chương trình số 58-CTr/TU, ngày 12/3/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nội dung cốt lõi một số luật, chính sách có hiệu lực trong những tháng đầu năm 2024, trọng tâm như:
+ Luật Đất đai 2024 (được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp bất thường lần thứ 5, ngày 18/01/2024, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025). Luật quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của công dân, người sử dụng đất đối với đất đai.
+ Luật Đấu thầu (Luật số 22/2023/QH15, ngày 23/6/2023 của Quốc hội khóa XV, có hiệu lực từ 01/01/2024). Luật quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu, thẩm quyền và trách nhiệm của các quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động đấu thầu; hoạt động lựa chọn nhà đầu tư thực hiện gói thầu, hoạt động lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đầu tư kinh doanh.
+ Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 15/2023/QH15, ngày 09/01/2023 của Quốc hội khóa XV, có hiệu lực từ 01/01/2024). Luật quy định lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh; tiếp tục chính sách xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế; 7 nhóm đối tượng được ưu tiên khám chữa bệnh theo luật mới gồm: Người bệnh trong tình trạng cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, phụ nữ có thai, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người từ đủ 75 tuổi trở lên, người có công với cách mạng phù hợp với đặc thù của cơ sở khám chữa bệnh.
+ Luật Thi đua, khen thưởng (Luật số 06/2022/QH15, ngày 15/6/2022 của Quốc hội khóa XV, có hiệu lực từ 01/01/2024). Luật gồm 8 chương, 96 điều, có nhiều điểm mới tập trung vào phân cấp, phân quyền mạnh hơn trong thi đua, khen thưởng; thể hiện rõ nguyên tắc "thành tích đến đâu, khen đến đó" và đề cao tính kịp thời của hình thức khen thưởng theo công trạng, cũng như thành tích đạt được để khắc phục tình trạng "tích lũy thành tích, cộng dồn thành tích" như trước đây.
2. Tuyên truyền công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tuyên truyền việc tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”; nội dung cốt lõi tác phẩm “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
- Thông tin, tuyên truyền, phản ánh các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước, của tỉnh, của huyện; kết quả công tác xây dựng đảng và xây dựng hệ thống chính trị tháng 4/2024 của các cấp ủy; tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện các văn bản liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước, nhất là các quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
- Tập trung tuyên truyền sâu rộng việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với tuyên truyền các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác.
- Tuyên truyền công tác tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc ở cấp cơ sở; công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Đồng Văn và Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Đồng Văn, năm 2024.
- Tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân tích cực tham gia các giải/cuộc thi như: Giải Báo chí về xây dựng đảng (Giải Búa liềm vàng) của Đảng bộ tỉnh lần thứ III- năm 2024; Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2024; Cuộc thi sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; 8 lời Bác Hồ căn dặn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang giai đoạn II, 2022 - 2024”; Giải báo chí toàn quốc về Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Giải Diên Hồng) lần thứ hai - năm 2024; Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia với chủ đề Tự hào một dải biên cương lần thứ III; Giải thưởng toàn quốc thông tin đối ngoại lần thứ X, do Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức.
- Thường xuyên theo dõi, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng và dư luận xã hội để định hướng tư tưởng trong cán bộ, đoàn viên và nhân dân, nhất là đối với việc triển khai công tác quy hoạch, các dự án trên địa bàn tỉnh; kịp thời báo cáo, tham mưu cấp ủy, cơ quan chức năng chỉ đạo xử lý kịp thời khi có vấn đề phát sinh; tích cực đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, nhất là thông tin xấu độc trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
3. Tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- Tập trung tuyên truyền sự quyết tâm, nỗ lực, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giải ngân vốn đầu tư công, 03 chương trình mục tiêu quốc gia gắn với chất lượng các công trình, dự án, trong đó quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các dự án trọng điểm của huyện, tránh lãng phí, tiêu cực; tuyên truyền các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Trung ương, của tỉnh để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; công tác triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi đất trồng ngô kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị, hiệu quả kinh tế cao hơn; chương trình cải tạo vườn tạp phát triển kinh tế vườn hộ để tạo sinh kế cho người dân giảm nghèo bền vững… tuyên truyền việc thực hiện tốt công tác giải quyết thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến.
- Tuyên truyền các nội dung trong bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã năm 2024, tình hình tiêm chủng vắc xin trên địa bàn các xã, thị trấn. Hiện nay tại địa bàn các xã, thị trấn tình trạng trẻ em ăn phải quả có chất độc lại tiếp diễn; cần tập trung tuyên truyền cho các thôn, đặc biệt là các đơn vị trường học nhận biết và tác hại cuả các loại hoa, quả có độc để phòng tránh.
- Tuyên truyền tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2024, trong đó tập trung phản ánh công tác kiểm tra, thanh tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm; việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giáo dục đào tạo, trọng tâm là công tác tổng kết năm học 2023-2024 và chuẩn bị kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2024;...
- Tiếp tục tuyên truyền về các quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thông tin đối ngoại theo Kết luận số 57-KL/TW, ngày 15/6/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới; công tác thông tin đối ngoại năm 2024; tăng cường tuyên truyền biển, đảo, biên giới đất liền, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên biển theo luật pháp quốc tế.
- Tiếp tục tuyên truyền quảng bá hình ảnh Đồng Văn trong dịp nghỉ lễ 30/4; công tác tổ chức các các hoạt động văn hóa, thể thao thu hút khách du lịch của các huyện…
4. Tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm, trong tháng 5/2024
- Tuyên truyền trước, trong và sau kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Trong đó tập trung phản ánh và đưa tin kịp thời về các hoạt động kỷ niệm lớn, trọng tâm, nhất là Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành, các phong trào thi đua yêu nước; đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch...; tiếp sóng truyền hình trực tiếp “Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành”, “Chương trình nghệ thuật đặc biệt”, “Cầu truyền hình trực tiếp”; tổ chức treo cờ Đảng, cờ Tổ quốc, băng zôn, pa nô, khẩu hiệu tuyên truyền, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi với chủ đề hướng về Chiến thắng Điện Biên Phủ…
- Tuyên truyền “Tháng công nhân 2024”. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về lịch sử dân tộc, về truyền thống đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, của tổ chức Công đoàn Việt Nam, về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là việc triển khai, thực hiện Luật Công đoàn, Bộ Luật lao động sửa đổi, bổ sung, chính sách tiền lương mới, chính sách Bảo hiểm xã hôi, Bảo hiểm Y tế.
- Tuyên truyền kỷ niệm 49 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024) và 138 năm ngày Quốc tế lao động (01/5/1886 - 01/5/2024); kỷ niệm 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (10/5/1969 - 10/5/2024); kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2024); kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Đào Duy Tùng (20/5/1924 - 20/5/2024); kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Đình Giong (01/6/1904 - 01/6/2024); tuyên truyền Lễ hội chợ phong lưu Khâu Vai (27/3 âm lịch) dự kiến tổ chức các hoạt động từ ngày 04 đến ngày 05/5/2024…
Căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, cơ quan, đơn vị các chi, đảng bộ lựa chọn, bổ sung nội dung để thực hiện tuyên truyền đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY ĐỒNG VĂN
-----
Ban Tuyên giáo Huyện ủy
