KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH, QUYẾT TÂM
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN ĐỐI NGOẠI,
NGOẠI GIAO TOÀN DIỆN, HIỆN ĐẠI,
MANG ĐẬM BẢN SẮC “CÂY TRE VIỆT NAM”
Trích bài viết của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tiếp theo kì trước)
... Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác đối ngoại Việt Nam trong thời gian tới
Một là, không ngừng đổi mới tư duy về đối ngoại. Đổi mới tư duy về đối ngoại trước hết là sự kế thừa và phát triển truyền thống ngoại giao của dân tộc, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với sự phát triển nhận thức về đối ngoại qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế của từng thời kỳ, chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Đổi mới tư duy đúng và kịp thời sẽ giúp nắm bắt cơ hội, đổi mới tư duy chậm thì sẽ dẫn đến trì trệ, thậm chí biến thành thách thức.
Đổi mới tư duy còn là việc bổ sung, linh hoạt điều chỉnh những nội hàm quan trọng của đối ngoại như nhận thức về thế giới, định vị đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, quan hệ đối tác - đối tượng... Các nội hàm này không bất biến, mà có sự chuyển hóa linh hoạt đòi hỏi phải luôn luôn đổi mới, nắm bắt những biến động nhanh chóng, bất ngờ để có đối sách ứng phó phù hợp. Đổi mới còn là việc vượt ra khỏi những lĩnh vực, tư duy lạc hậu, mạnh dạn tìm cách làm mới, tìm hướng đi mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như đối ngoại số, đối ngoại công nghệ, đối ngoại môi trường...
Hai là, chú trọng, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “tầm nhìn phải rộng”, “suy nghĩ phải sâu”, “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Do đó, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược phải luôn đi trước để nắm bắt đúng xu thế phát triển của tình hình, tạo thế chủ động cho đất nước, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ. Nghiên cứu, dự báo phải nhanh nhạy phát hiện các vấn đề mới, nhận diện thời cơ và thách thức, từ đó tham mưu, tìm ra hướng đi thuận lợi cho đất nước.
Nghiên cứu, dự báo, tham mưu trước hết phải biết mình, định vị được vị thế của đất nước trong cục diện thế giới, nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình, giá trị và vị trí chiến lược của đất nước trong chính sách của các nước khác. Đánh giá, dự báo chiều hướng vận động của cục diện thế giới, nhất là những biến chuyển trong cục diện thế giới sau những biến cố lớn, quan hệ giữa các nước láng giềng, nước lớn, khu vực, các xu thế phát triển, cố gắng phát hiện các vấn đề mới, xu thế mới, từ đó đề xuất với Đảng và Nhà nước những chủ trương, quyết sách phù hợp. Các cơ quan tham mưu cần phối hợp chặt chẽ với nhau để đánh giá, tham mưu một cách toàn diện, khách quan, nhiều chiều, tổng thể và sâu sắc, nhất là trong những vấn đề đối ngoại hệ trọng.
Ba là, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là nhiệm vụ trọng yếu của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó có sự đóng góp tích cực, thường xuyên, có vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước. Điều đó đòi hỏi công tác đối ngoại, ngoại giao phải luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt, mềm mại nhưng kiên quyết, linh hoạt và thận trọng; có kế sách chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, đồng thời giữ vững nguyên tắc giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, kiên trì tìm kiếm, đề xuất các giải pháp cơ bản, lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Để giữ vững hòa bình, ổn định, trước hết cần coi trọng đưa quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững; đồng thời, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác đặc biệt, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các đối tác quan trọng khác và bạn bè truyền thống, tạo thế đan xen lợi ích và tăng cường độ tin cậy. Trong các mối quan hệ quốc tế, tiếp tục nêu cao tinh thần hòa hiếu của dân tộc, giữ gìn chữ “đồng” và chữ “tín”, phát huy các điểm đồng về lợi ích và hợp tác chân thành, tin cậy, thực hiện nghiêm túc các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Có như vậy, Việt Nam mới giữ được các quan hệ đối ngoại bền chặt, củng cố vững chắc cục diện đối ngoại thuận lợi, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo điều kiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bốn là, đối ngoại tiếp tục đi đầu trong việc huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Đất nước ta đang đứng trước những biến chuyển hết sức sâu rộng của nền kinh tế thế giới, nếu không vượt qua được những thách thức mới và phức tạp, việc hoàn thành mục tiêu “trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vào giữa thế kỷ XXI sẽ rất khó khăn, thậm chí nguy cơ tụt hậu sẽ càng xa hơn. Đối ngoại, ngoại giao cần phát huy hiệu quả các mối quan hệ chính trị tốt đẹp, tranh thủ tối đa các yếu tố quốc tế thuận lợi, tận dụng nội dung, hình thức mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để xác lập vị trí thích hợp và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất quốc tế, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, công nghệ, tri thức phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, ngoại giao kinh tế phải lấy phục vụ làm phương châm hành động, lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm. Các cơ quan đối ngoại cần quan tâm kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi, mở đường, đồng hành, hỗ trợ người dân, địa phương và doanh nghiệp tranh thủ tối đa cơ hội, lợi ích và giảm thiểu rủi ro, vượt qua thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
Năm là, phát huy tối đa thế và lực mới để nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Vị thế, uy tín của đất nước không chỉ dựa vào sức mạnh vật chất mà cả “sức mạnh mềm” của dân tộc, đó là đại đoàn kết, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và bản sắc văn hóa truyền thống, là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, nhân văn, nhân ái, nghĩa tình, tâm công, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới, v.v..
Với thế và lực mới, chúng ta cần tiếp tục đóng góp tích cực hơn nữa vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội. Chủ động, tích cực tham gia xây dựng, định hình các cơ chế, chuẩn mực luật pháp quốc tế, cải tổ các định chế quản trị toàn cầu và khu vực, coi đây là chỗ dựa vững chắc cho đối ngoại Việt Nam trên trường quốc tế. Thúc đẩy hợp tác đa phương trong các lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều lợi ích, đóng góp thiết thực, trách nhiệm với công việc chung của nhân loại, nhất là trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể như ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng sông Mêkông..., tiêu biểu như cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Đẩy mạnh đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa để thế giới hiểu đầy đủ, đúng đắn đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam, công cuộc đổi mới, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, hiểu biết và yêu mến đất nước, văn hóa và con người Việt Nam với hàng nghìn năm văn hiến, lan tỏa các giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ra thế giới. Với tinh thần người Việt Nam ở nước ngoài là máu thịt, là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm, chăm lo, hỗ trợ cho cộng đồng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng ổn định, phát triển, có địa vị pháp lý vững chắc ở nước sở tại và gắn bó với quê hương, đất nước.
Sáu là, kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại toàn diện về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phong cách, phương pháp làm việc, có năng lực đổi mới sáng tạo, đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. “Mang chuông đi đánh xứ người” là công việc rất khó khăn, vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm công tác đối ngoại, ngoại giao. Tại Hội nghị cán bộ ngoại giao lần thứ III (tháng 01/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cán bộ ngoại giao cần phải học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng; cần phải biết giữ bí mật; cần phải tiết kiệm đúng cách; cần phải chú ý đoàn kết nội bộ; cần cố gắng nắm bắt tình hình nước sở tại và tình hình quốc tế nhanh và chính xác”. Những lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là định hướng xuyên suốt để cán bộ làm công tác đối ngoại phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại là một đội ngũ đặc biệt: đặc biệt tin cậy về phẩm chất, đặc biệt nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, đặc biệt linh hoạt, khôn khéo trong đàm phán và tinh tế trong ứng xử. Do vậy, cần phải rèn luyện phong cách: suy nghĩ kỹ càng, hành động quyền biến, kỹ năng thành thạo; về năng lực phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ giỏi. Cán bộ làm công tác đối ngoại phải thường xuyên luôn luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị và tư tưởng vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, tỉnh táo trước sự tác động, cám dỗ, lôi kéo của các thế lực thù địch, chủ động tích cực phòng ngừa không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vướng vào tham nhũng, tiêu cực. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn luôn ghi nhớ rằng, phía sau mình là Đảng, là Nhà nước, là đất nước và nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, cán bộ đối ngoại, ngoại giao còn phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc, có kỹ năng ngoại giao hiện đại và phong cách ứng xử liên văn hóa. Chúng ta phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực để làm việc tại các tổ chức quốc tế và khu vực, các cơ quan trọng tài, tư vấn quốc tế. Chú trọng đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi trên một số lĩnh vực trọng yếu. Bên cạnh đó, các thể chế, chính sách, pháp luật và nguồn lực cho hoạt động đối ngoại, ngoại giao cũng cần được hoàn thiện, sắp xếp, kiện toàn bộ máy của các cơ quan đối ngoại, ngoại giao cả ở trong nước và nước ngoài tinh gọn, khoa học, hợp lý và hiệu quả.
Còn nữa
79 năm Ngoại giao Việt Nam: Phát huy truyền thống vẻ vang, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước
Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao (28/8/1945 - 28/8/2024), Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã có bài viết "79 năm Ngoại giao Việt Nam: Phát huy truyền thống vẻ vang, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước" với các nội dung sau:
Ngoại giao phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Trong 79 năm qua, ngoại giao đã để lại những dấu ấn quan trọng trong những trang lịch sử hào hùng của đất nước. Trong những buổi đầu lập quốc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cách mạng tiền bối, trên cơ sở các nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” và với những sách lược táo bạo, khôn khéo như “hòa để tiến”, “phân hóa kẻ thù”, Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 đã góp phần bảo vệ thành công chính quyền cách mạng non trẻ, giúp cách mạng nước ta vượt qua những tình huống hiểm nghèo.
Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đối ngoại, ngoại giao đã tranh thủ sự ủng hộ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo dựng mặt trận quốc tế rộng lớn ủng hộ sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với những thắng lợi trên mặt trận quân sự, những thắng lợi của mặt trận đối ngoại, ngoại giao trên bàn đàm phán ở Giơ-ne-vơ năm 1954 và Pa-ri năm 1973 là những mốc son trên chặng đường giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà.
Sau khi đất nước thống nhất, đối ngoại, ngoại giao là mặt trận tiên phong tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị. Đồng thời đối ngoại, ngoại giao đi đầu trong việc khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, giải quyết các vấn đề tồn tại trong quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng mở ra cục diện mới phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.
Ngoại giao trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, trong gần 40 năm đổi mới, công tác đối ngoại, ngoại giao đã đạt được “những kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử” như đánh giá của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 (tháng 12/2023), góp phần tạo dựng cục diện đối ngoại rộng mở, thành công của đất nước.
Quan hệ ngoại giao không ngừng được mở rộng, đi vào chiều sâu. Đến nay, nước ta có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia trên thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; có quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ; đã ký 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới. Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận vai trò tiên phong trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và thúc đẩy quyền con người. Việc nâng tầm, nâng cấp quan hệ với các đối tác chủ chốt, quan trọng cùng các hoạt động đối ngoại cấp cao sôi động trong những năm qua, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đã góp phần tạo nên tầm vóc chiến lược mới, đưa hợp tác đi vào chiều sâu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài và bền vững của các mối quan hệ.
Đối ngoại, ngoại giao đa phương đã trưởng thành mạnh mẽ, khẳng định Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Không chỉ tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn như ASEAN, APEC,… ngoại giao còn hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế tại các cơ chế quốc tế như Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, UNESCO,… Đặc biệt đối ngoại, ngoại giao đã chủ động, tích cực đưa ra nhiều ý tưởng, sáng kiến, tham gia vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới, tham gia ngày càng sâu vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế.
Trong phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế, cùng với việc huy động nguồn lực quan trọng cho phát triển như FDI, ODA, đối ngoại, ngoại giao đã góp phần đưa Việt Nam trở thành mắt xích trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu với việc ký kết, tham gia các thỏa thuận, khuôn khổ kinh tế quan trọng. Đồng thời, ngành ngoại giao đã tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong thúc đẩy hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực an ninh - quốc phòng, xã hội, văn hóa, khoa học - công nghệ..., đưa Việt Nam hội nhập vào dòng chảy chung của thế giới.
Cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại, ngoại giao đã góp phần thực hiện nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình từ sớm, từ xa. Chúng ta đã nỗ lực để cùng các nước láng giềng xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Chúng ta đã đấu tranh kiên quyết, kiên trì, kịp thời, hiệu quả đối với hoạt động vi phạm chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của chúng ta trên biển; đồng thời chủ động, tích cực thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải quyết những vấn đề tồn tại, thực hiện tốt DOC, tích cực tham gia xây dựng COC thực chất, hiệu quả phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.
Ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại đã góp phần đưa “sức mạnh mềm” Việt Nam, quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người, thành tựu đổi mới và bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài góp phần thực hiện chính sách chăm lo của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, củng cố đại đoàn kết dân tộc, huy động nhiều nguồn lực của cộng đồng cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta cũng đã thực hiện tốt việc bảo hộ công dân ta ở nước ngoài, nhất là khi xảy ra xung đột, chiến tranh, dịch bệnh trên thế giới.
Ngoại giao trong thời đại mới
Trong thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến chuyển lớn, cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng nhất của ngoại giao thời gian tới là tranh thủ tối đa và tiếp tục củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, đưa đất nước vào dòng chảy của thời đại, tạo đột phá để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045 mà Đại hội XIII đã đề ra.
Bước vào “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, trên cơ sở nghiêm túc tổng kết những bài học đối ngoại của 40 năm đổi mới và trước bối cảnh tình hình mới và các vấn đề lớn đặt ra đối với đất nước, ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục đổi mới tư duy và hành động, tham mưu, xây dựng những giải pháp mới bổ sung cho đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu là “bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên”.
Là động lực quan trọng cho đổi mới, ngành Ngoại giao xác định sẽ không ngừng phấn đấu để vừa phục vụ đắc lực các lợi ích an ninh và phát triển, nâng cao vị thế đất nước, vừa góp phần xây dựng một trật tự quốc tế công bằng, bảo đảm lợi ích chính đáng của các nước, trong đó có Việt Nam. Chúng ta sẽ tiếp tục nâng tầm, nâng cấp và tranh thủ tối đa cơ hội từ các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; phát huy mạnh mẽ vai trò của các phương thức, các kênh đối ngoại như ngoại giao cấp cao, ngoại giao chuyên ngành, đối ngoại địa phương, các kênh học giả và doanh nghiệp…; tham gia chủ động, có trách nhiệm hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung của quốc tế và khu vực; thể hiện vai trò nòng cốt, dẫn dắt của đối ngoại đa phương trong những vấn đề, cơ chế quan trọng có tầm chiến lược. Đặc biệt chúng ta cũng sẽ dành ưu tiên cao cho công tác xây dựng ngành, xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao vừa hồng, vừa chuyên, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và lý tưởng của Đảng. Cùng với đó, ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các lực lượng làm đối ngoại, các trụ cột đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhân dân, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp và lợi thế đặc thù của mỗi trụ cột trong chỉnh thể thống nhất của nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp.
Phát huy truyền thống vẻ vang và những thành tựu to lớn trong 79 năm qua và hướng tới mốc lớn kỷ niệm 80 năm thành lập ngành, tiếp bước tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, viết tiếp những trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Theo Báo điện tử ĐCSVN
Đảng ta xứng đáng là “con nòi” của dân tộc Việt Nam
Trong bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”, một trong những nội dung được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh là Đảng ta không chỉ là đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, mà còn là đảng của dân tộc Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “con nòi” của dân tộc và xứng đáng là "con nòi" của dân tộc
Trong nhiều tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường xuyên khẳng định về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhận thức rõ chân lý thời đại, nắm bắt quy luật cách mạng là muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi áp bức, bóc lột thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản, phải có chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là mốc son của lịch sử cách mạng Việt Nam, trong bối cảnh giai cấp công nhân Việt Nam và cả dân tộc sống trong cảnh bị áp bức, lầm than, cơ cực. Khi Đảng ta ra đời đảm đương nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống tự do và hạnh phúc cho nhân dân theo con đường cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm kết tinh, hòa quyện 3 yếu tố là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đó là sự vận dụng sáng tạo thiên tài của Hồ Chí Minh từ quy luật chung hình thành đảng cộng sản mà Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã chỉ ra vào một nước thuộc địa nửa phong kiến, bổ sung thêm thành tố thứ 3 là “phong trào yêu nước” trong điều kiện số lượng giai cấp công nhân chưa phát triển và phong trào yêu nước diễn ra sâu rộng là đúng đắn.
Sự kết hợp giữa 3 thành tố đó đã trở thành quy luật, hình mẫu đặc thù và phản ánh tính đặc sắc nguồn gốc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - sự hội tụ của những con người tiêu biểu trong một tổ chức tiêu biểu về giác ngộ Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tiêu biểu trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước (giá trị cốt lõi, đậm sắc thái của dân tộc Việt Nam).
Đảng ta ra đời trong lòng quốc gia dân tộc có nhiều tộc người khác nhau nhưng có truyền thống đoàn kết, trong bối cảnh bị áp bức, bóc lột, lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Điều đó cũng có nghĩa là Đảng ta vừa là "con nòi" mác-xít, vừa là "con nòi" của dân tộc Việt Nam. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam được toàn thể nhân dân Việt Nam thường gọi với tên trìu mến là “Đảng ta”.
Đảng ta là "con nòi" của dân tộc Việt Nam thể hiện trong cương lĩnh và tập trung ở mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mục tiêu của Đảng xác định đã phản ánh hai vế trong mối quan hệ biện chứng, đó là độc lập dân tộc làm trụ cột bệ đỡ và điều kiện quyết định để lựa chọn con đường đi lên CNXH; ngược lại chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho nền độc lập dân tộc thực sự.
Bàn về sức mạnh nội sinh của Đảng ta và dân tộc ta, nhân dân ta, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện sâu sắc trong phần 1, phần 2 của bài viết với nội dung tập trung làm rõ: Sự ra đời của Đảng ta trong hoàn cảnh không thuận lợi với 15 tuổi nhưng đã lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thành công, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nhà nước công nông để bảo vệ chính quyền của nhân dân và nền độc lập dân tộc.
Ở giai đoạn kế tiếp 1954 - 1975, Đảng lãnh đạo tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh. Từ năm 1986, Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới và mở rộng hội nhập quốc tế; xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn để "đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Ở phần 3 của bài viết, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định mục tiêu, quyết tâm của Đảng và cũng là lời hiệu triệu đối với toàn Đảng, toàn dân tộc ta, nhân dân ta phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ vang, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”. Điều đó là hoàn toàn có khả năng thực tế vì Đảng ta có bản lĩnh chính trị kiên cường, trí tuệ, kinh nghiệm và dân tộc ta, nhân dân ta anh hùng, có truyền thống hàng nghìn năm văn hiến.
Kiên định với mục tiêu vì sự trường tồn của dân tộc, vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của nhân dân
Thời cuộc dù còn biến đổi khó lường, đan xen cả thời cơ và thách thức đối với con đường phát triển của dân tộc ta trong những chặng đường tới, nhưng không làm thay đổi mục tiêu mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu ra là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng.
Trong mọi hoàn cảnh, Đảng ta nhất quán nguyên tắc đổi mới không đổi màu và kiên định với con đường đã lựa chọn, với lập trường nhất quán mà Đại hội XIII đã đề ra: “Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Đấu tranh kiên quyết với tiêu cực, tham nhũng với phương châm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ". Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, tổ chức thắng lợi đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước, gần dân, trọng dân và thân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại. Chủ động tham gia hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy giá trị văn hiến, truyền thống anh hùng, đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất của nhân dân ta.
Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, phân hóa giàu nghèo giữa các giai cấp, tầng lớp, sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các thành phần dân tộc. Thực hiện nhất quán đường lối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, chung sức đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
Cùng với đó, Đảng ta tiếp tục giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và thực hiện tốt chính sách xã hội, chính sách dân tộc. Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đến đâu tăng cường nguồn lực bảo đảm cho chính sách xã hội và chính sách dân tộc đến đó; phát triển kinh tế đến đâu thì chăm lo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống cho nhân dân đến đó, với phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Thực tế chứng minh kết quả thực hiện chủ trương phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ta những năm qua đã trở thành điểm sáng được cộng đồng thế giới ghi nhận.
Tin tưởng rằng, với đường lối lãnh đạo đúng đắn, quyết tâm chính trị cao của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta sẽ có đủ khả năng phát huy sự đồng thuận của toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra.
Theo Báo QĐND
VĂN BẢN MỚI CỦA CHÍNH PHỦ
Kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường trong nước
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg, ngày 27/8/2024 về việc kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường trong nước.
Chỉ thị của Thủ tướng nêu rõ: để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
I- NHIỆM VỤ CHUNG
- Sớm đưa vào vận hành các công trình, dự án đầu tư tạo năng lực sản xuất mới. Trong đó, tập trung rà soát, ưu tiên các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong giải ngân vốn đầu tư công, các gói tín dụng, đất đai cũng như các chính sách thu hút các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện các dự án phù hợp với quy mô và tín hiệu thị trường.
- Khơi thông thị trường trong nước, có chính sách khuyến khích tiêu dùng, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực mà sản xuất trong nước có thế mạnh, còn năng lực sản xuất và thị trường trong nước có nhu cầu.
- Rà soát và có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Triển khai các giải pháp kết nối vùng nhằm giảm chi phí vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa giữa các vùng; hỗ trợ doanh nghiệp dịch chuyển đầu tư về các vùng có lợi thế cạnh tranh về các yếu tố như mặt bằng sản xuất kinh doanh, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ để giảm chi phí sản xuất.
- Các bộ, cơ quan, địa phương triển khai ứng dụng công nghệ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), công nghệ blockchain để tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại thị trường trong nước, kết nối cung cầu, hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, tư vấn pháp lý cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới và Chỉ thị số 28/CT-TTg, ngày 26/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới.
II- NHIỆM VỤ CỤ THỂ
1. Bộ Công Thương
- Đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm gắn kết giữa sản xuất với phân phối hàng hóa, tăng cường liên kết trong chuỗi giá trị hàng hóa gắn với thực hiện tốt các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, hình thành các chuỗi liên kết hàng thuần Việt. Tiếp tục triển khai mạnh mẽ các hoạt động kết nối cung cầu hàng hóa, nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước tại các kênh phân phối truyền thống và hiện đại; đẩy mạnh triển khai các đề án, chương trình mục tiêu về phát triển thương mại và thị trường trong nước đã được phê duyệt.
- Tổ chức các chương trình khuyến mại trên phạm vi vùng và toàn quốc, phối hợp với các địa phương tăng cường các hoạt động kết nối cung cầu, phân phối các sản phẩm OCOP, đưa hàng hóa đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp để kích cầu tiêu dùng trong nước.
- Khuyến khích các sàn thương mại điện tử đang hoạt động tại Việt Nam triển khai các chương trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước. Phát động phong trào tiêu dùng hàng hoá Việt, sản phẩm địa phương thông qua các mô hình gian hàng Việt, sản phẩm Việt trên thương mại điện tử. Tổ chức các hoạt động thúc đẩy liên kết vùng trong thương mại điện tử, các hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới với các nước trong khu vực, thị trường nhập khẩu lớn.
- Tổ chức các chương trình, sự kiện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, phát triển các mô hình mới trong mua bán hàng hóa trên môi trường trực tuyến, hỗ trợ doanh nghiệp Việt kết nối và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất trong nước.
- Tổ chức kết nối các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và doanh nghiệp lớn toàn cầu nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước.
- Triển khai các giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ, các hàng rào kỹ thuật liên quan đến môi trường, phát triển bền vững, chuyển đổi xanh nhằm thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc… tiếp tục tận dụng, đẩy mạnh hợp tác giữa Việt Nam và các nước thành viên thuộc các cơ chế hợp tác tiểu vùng nhằm tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ từ các đối tác phát triển, mở cửa thị trường mới cho hàng hóa Việt Nam.
- Phối hợp với Bộ Tài chính sớm nghiên cứu và xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu qua thương mại điện tử hiện đang tạo sức ép lớn lên hàng hóa sản xuất trong nước, ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nội địa.
- Rà soát, xử lý các tồn đọng ở các dự án sản xuất các mặt hàng công nghiệp, công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng; kịp thời tháo gỡ khó khăn để các dự án này sớm đi vào hoạt động, góp phần tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
- Tiếp tục thực hiện các giải pháp ổn định sản xuất, cân đối cung cầu các hàng hóa cơ bản, thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng dịp cuối năm.
- Thúc đẩy thu hút đầu tư các dự án sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu, tăng năng lực sản xuất và tạo thêm việc làm, từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên, nhiên vật liệu cơ bản của nước ngoài.
2. Bộ Tài chính
- Điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp đồng bộ, hài hòa, linh hoạt với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
- Chỉ đạo đẩy nhanh thủ tục giải ngân kinh phí triển khai các Chương trình xúc tiến thương mại của các bộ, ngành, địa phương nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước.
- Phối hợp với Bộ Công Thương nghiên cứu giải pháp kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu qua thương mại điện tử phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam
- Phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đề xuất chính sách thuế đối với các dự án thu hút đầu tư sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu.
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Điều hành tín dụng hài hòa với diễn biến kinh tế vĩ mô, điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường nhằm ổn định thị trường ngoại tệ… góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Tiếp tục chỉ đạo triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng, hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng: nghiên cứu xây dựng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng dành riêng cho lĩnh vực tiêu dùng, tăng cường cho vay phục vụ đời sống, tiêu dùng. Đẩy mạnh triển khai cho vay qua các hình thức điện tử, trực tuyến; đơn giản hóa thủ tục vay vốn, vay tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn vay nhằm thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa trong nước sản xuất. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức tín dụng bảo đảm các chính sách của Nhà nước đến với người dân, doanh nghiệp kịp thời, đúng đối tượng.
- Chỉ đạo đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi như: Chương trình gói tín dụng 140 nghìn tỷ đồng cho vay phát triển nhà ở xã hội; Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”; mở rộng Chương trình cho vay 30.000 tỷ đồng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phát triển sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cho các vùng nuôi, trồng tập trung. Phối hợp với Bộ Công Thương, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, kết nối hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông sản tại các vùng sản xuất tập trung; đẩy mạnh sản xuất xanh, sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến thủ tục công bố, hợp quy thuốc thú y; thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu nông sản chính ngạch sang các thị trường lân cận như Trung Quốc, khẩn trương đàm phán thống nhất với cơ quan liên quan của Trung Quốc giảm tỷ lệ kiểm dịch động thực vật, khơi thông hàng hóa nông sản vào thị trường Trung Quốc.
5. Bộ Xây dựng
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản phát triển an toàn, bền vững, xây dựng nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội nhằm kích cầu tiêu dùng các mặt hàng vật liệu xây dựng được sản xuất trong nước như xi măng, sắt thép, gạch, ngói, …
- Nghiên cứu xây dựng và ban hành Danh mục thúc đẩy khuyến khích tiêu dùng các mặt hàng vật liệu xây dựng sản xuất trong nước.
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa quy trình đầu tư và thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp; chủ trì, phối với bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét chính sách khuyến khích đối với các dự án đầu tư có sử dụng nguyên vật liệu, hàng hóa trong nước đã sản xuất được. Thường xuyên rà soát, đôn đốc việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư công và có biện pháp xử lý đối với các dự án chậm triển khai.
7. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai các giải pháp theo quy định của pháp luật và phù hợp với tình hình địa phương trong việc tháo gỡ khó khăn về mặt bằng phục vụ thu hút, mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp… để tạo năng lực sản xuất mới.
- Tổ chức tốt thị trường trong nước, các kênh phân phối truyền thống và hiện đại, tạo thuận lợi cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa; tăng cường kết nối vùng, miền để trao đổi tiềm năng, thế mạnh, trong đó chú trọng kết nối về logistics, tạo thuận lợi trong hoạt động vận chuyển hàng hóa lưu thông.
- Chủ trì, phối với các bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa sản xuất tại địa phương, nhất là dịp cuối năm nhằm khai thác tối đa thị trường nội địa. Chỉ đạo hệ thống phân phối trên địa bàn bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu.
8. Các hiệp hội ngành hàng, các tập đoàn, tổng công ty
- Các hiệp hội ngành hàng chủ động nắm bắt thông tin, nhu cầu thị trường, các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp thành viên trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để kịp thời đề xuất các cơ quan chức năng có biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ.
- Các tập đoàn, tổng công ty tập trung đổi mới quản trị, tăng cường nghiên cứu phát triển, nâng cao sức cạnh tranh, tiết giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động; tăng cường sử dụng nguyên liệu, sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất trong nước; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng trong thực hiện Chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
Chỉ đạo các doanh nghiệp thành viên xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, tập trung khai thác khu vực thị trường trong nước có nhu cầu nhưng khả năng đáp ứng còn hạn chế; cung cấp thông tin, tuyên truyền cho các doanh nghiệp trong các hoạt động đầu tư dự án sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu.
9. Các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức, đơn vị có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung thực hiện nghiêm Chỉ thị này.
THÔNG TIN TRONG TỈNH
Sáng 27/8/2024, tại trụ sở Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Mạnh Dũng- quyền Bí thư Tỉnh ủy đã chủ trì phiên họp thứ nhất, Ban Chỉ đạo (BCĐ) đại hội đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025 - 2030; cùng dự phiên họp có các đồng chí: Thào Hồng Sơn- Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy- Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy là thành viên BCĐ.
Tại phiên họp, Văn phòng Tỉnh ủy - cơ quan thường trực BCĐ đã thông qua quyết định phân công đối với các thành viên BCĐ đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030; theo đó, BCĐ có 15 thành viên do đồng chí Nguyễn Mạnh Dũng, quyền Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng ban.
Theo báo cáo tiến độ triển khai công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025 - 2030, để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVIII, đến nay BCĐ đã thành lập các tiểu ban và tổ giúp việc các tiểu ban: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Tuyên truyền, Khánh tiết; Tiểu ban Nhân sự; Tiểu ban Hậu cần, Bảo vệ và triển khai các nội dung công việc theo nhiệm vụ được giao đúng tiến độ. Đảng bộ các huyện, thành phố và đảng ủy khối cơ quan - doanh nghiệp đã ban hành kế hoạch tổ chức đại hội; thành lập BCĐ đại hội và các tiểu ban đại hội; triển khai xây dựng báo cáo chính trị theo hướng dẫn và đề cương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu đã cho ý kiến về tiến độ triển khai công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và (dự thảo) quyết định phân công nhiệm vụ đối với các thành viên BCĐ đại hội; đồng thời đề xuất, kiến nghị một số nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Qua ý kiến thảo luận và các đề xuất, kiến nghị của các thành viên BCĐ, kết luận phiên họp, quyền Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Mạnh Dũng đề nghị Văn phòng Tỉnh ủy - cơ quan thường trực BCĐ tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thành viên BCĐ để xây dựng quy chế, kế hoạch làm việc của BCĐ sao cho vừa phát huy được vai trò chủ động của các cá nhân, tập thể. Việc xây dựng đề cương, văn kiện chính trị trình đại hội các cấp cần thực hiện sớm, đảm bảo rõ chủ đề, phương châm, khâu đột phá, có sự tương đồng giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở, sát với đặc thù, thực tế của địa phương.
Quyền Bí thư Tỉnh ủy cũng đề nghị các tiểu ban đẩy nhanh tiến độ công việc theo nhiệm vụ được giao, định kỳ hàng tháng tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ về BCĐ.
Đối với việc lựa chọn đại hội điểm cấp cơ sở, đại hội điểm cấp huyện, việc bầu bí thư trực tiếp tại đại hội, BCĐ giao Ban Tổ chức Tỉnh ủy khảo sát, tham mưu cho BCĐ đại hội. Quyền Bí thư Tỉnh ủy cũng yêu cầu các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phát huy trí tuệ tập thể, tiếp tục nghiên cứu, đóng góp ý kiến sâu hơn vào chủ đề, phương châm, khâu đột phá của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Theo Báo Hà Giang
Chiều 27/8/2024, Ban chỉ đạo (BCĐ) diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh tổ chức khai mạc luyện tập khu vực phòng thủ tỉnh Hà Giang năm 2024; đồng chí Nguyễn Mạnh Dũng, quyền Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng BCĐ diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh dự và quán triệt nội dung luyện tập; cùng dự có các đồng chí: Thào Hồng Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ tỉnh; lãnh đạo các ban xây dựng đảng Tỉnh ủy; các sở, ban, ngành, các tổ chức chính trị- xã hội của tỉnh.
Cuộc diễn tập nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, khả năng điều hành của chính quyền, năng lực tham mưu của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương và nâng cao trình độ tác chiến trong khu vực phòng thủ của lực lượng vũ trang địa phương để xử lý tốt khi có tình huống xảy ra trong tình hình hiện nay; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia; tiếp tục xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới.
Quán triệt nhiệm vụ diễn tập, quyền Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Mạnh Dũng - Trưởng BCĐ thực hiện nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2024 biểu dương lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang của tỉnh đã cố gắng, khắc phục khó khăn thực hiện tốt công tác chuẩn bị trước khi luyện tập, diễn tập.
Quyền Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong năm 2024, đồng chí đề nghị các cấp, các ngành thành viên BCĐ cần nâng cao ý thức trách nhiệm, quyết tâm cao trong triển khai thực hiện. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai theo đúng ý định luyện tập, quyết tâm tác chiến phòng thủ để làm cơ sở cho các sở, ban, ngành và các tổ chức chính trị- xã hội của tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện bảo đảm nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho từng vị trí diễn tập. Các thành phần tham gia luyện tập, diễn tập phải đảm bảo đúng quy định của BCĐ chuẩn bị diễn tập tỉnh. Các sở, ban, ngành, MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội tập trung đầu tư thời gian nghiên cứu, bám sát vào nội dung luyện tập, diễn tập, phát biểu, đề xuất các giải pháp ngắn gọn, trình tự phù hợp tình hình thực tế, linh hoạt, sinh động trong từng nội dung. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đúng kế hoạch, làm tốt công tác chuẩn bị để tổ chức thành công cuộc diễn tập, đảm bảo an toàn, thiết thực và đạt hiệu quả cao nhất.
Quyền Bí thư Tỉnh ủy cũng đề nghị các thành viên BCĐ, các thành phần, lực lượng tham gia diễn tập chấp hành nghiêm thời gian luyện tập, diễn tập; các quy định về đi lại, tuần tra canh gác, bảo mật, phòng gian; phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường… đảm bảo cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2024 diễn ra thành công tốt đẹp.
Theo Báo Hà Giang
THÔNG TIN TRONG HUYỆN
Chiều ngày 23/8/2024, Phòng GD&ĐT huyện Đồng Văn đã tổ chức tổng kết năm học 2023 - 2024, đề ra phương hướng nhiệm vụ năm học 2024 - 2025, và biểu dương các giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi trong năm học. Dự hội nghị có Thường trực Ủy ban nhân dân huyện, một số phòng, ban, ngành chuyên môn của huyện, lãnh đạo Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn cùng các đơn vị trường học trên địa bàn huyện.
Năm học 2023 - 2024, ngành giáo dục huyện Đồng Văn đã đạt được những kết quả quan trọng như: đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tương đối đảm bảo về số lượng, chất lượng, bình quân 1,3 giáo viên/lớp; tỷ lệ huy động học sinh đến trường đạt 99%, so với kế hoạch tăng 0,4%; tỷ lệ duy trì sĩ số hàng ngày đạt 98% đạt chỉ tiêu giao; số học sinh đạt giải các kỳ thi chọn học sinh giỏi, giao lưu các cấp cao hơn so với năm trước; cơ sở vật chất cơ bản đảm bảo so với nhu cầu hiện tại; đảm bảo xét duyệt đầy đủ kịp thời chế độ cho học sinh các cấp; củng cố giữ vững thành quả huyện được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ - phổ cập giáo dục năm 2023; công tác xã hội hóa được tiếp tục làm tốt ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong năm học đã nhận được hơn 15 tỷ đồng; số trường công nhận đạt chuẩn quốc gia lên 21/51 trường, đạt 41,18%; duy trì và nâng cao chất lượng việc giáo dục kĩ năng sống và đưa văn hóa truyền thống vào giảng dạy trong các nhà trường… Thực hiện tốt công tác thực hiện dồn dịch các điểm trường lẻ; thực hiện việc sáp nhập các điểm trường, chuyển học sinh tiểu học từ điểm trường về trường chính, sáp nhập điểm trường đầu năm học 2023- 2024; năm học 2024 - 2025 lần đầu tiên huyện có trường trung học cơ sở trọng điểm được thành lập và đưa vào hoạt động với 02 lớp gần 60 học sinh...
Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm học 2024 - 2025, ngành giáo dục huyện Đồng Văn tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền về chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đổi với công tác giáo dục và đào tạo vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể trong việc chỉ đạo, quản lý công tác duy trì sỹ số học sinh, chống bỏ học. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, phát huy nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, Tiếp tục thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo. Tiếp tục duy trì và phát triển 20/20 trường mầm non tổ chức ăn bán trú tại trường chính và mở các lớp bán trú ở các điểm trường thuận lợi. Tiếp tục củng cố duy trì và giữ vững thành quả xóa mù chữ - phổ cập giáo dục năm 2024 và các năm tiếp theo...
Nhân dịp này, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện đã trao 03 Bằng khen cho 3 giáo viên đã có thành tích trong công tác giáo dục và đào tạo từ năm học 2018-2019 đến năm học 2022-2023; Tặng Cờ thi đua của Ủy ban nhân dân tỉnh cho 03 đơn vị trường học trong năm học 2022 - 2023; Tặng danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc năm học 2022 - 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho 13 đơn vị trường học; Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho 2 tập thể và 33 cá nhân có 02 năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện cũng đã trao Giấy khen cho nhiều tập thể và các giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi trên địa bàn huyện.
Đức Chung - TTVH, TT&DL
Chiều 26/8/2024, Huyện ủy Đồng Văn tổ chức hội đàm và ký kết biên bản ghi nhớ với Huyện ủy Phú Ninh, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Tiếp và làm việc với đoàn về phía huyện Đồng Văn có đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, Bí thư Huyện uỷ Đồng Văn; về phía huyện Phú Ninh có đồng chí Lưu Quang Tường, Bí thư Huyện uỷ Phú Ninh.
Huyện Đồng Văn và huyện Phú Ninh có tình giao lưu hữu nghị lâu đời, đặc biệt với phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” mà lãnh đạo hai nước đã xác lập; trong năm qua, hai huyện đã có nhiều hoạt động trao đổi, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng. Hai bên đã thực hiện tốt 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; duy trì và thực hiện hiệu quả cơ chế hội đàm định kỳ, tuần tra song phương và phối hợp giải quyết các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở, hiệp thương triển khai xây dựng các công trình biên giới theo đúng quy định. Tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới cơ bản được duy trì ổn định, hệ thống đường biên giới, mốc giới luôn được giữ nguyên trạng; phối hợp tốt trong việc trao đổi thông tin về tình hình mưa bão, lũ lụt, kịp thời có biện pháp phòng chống, xử lý, hạn chế thiệt hại do thiên tai, hợp tác tốt trong phòng, chống dịch bệnh ở người và động vật. Lực lượng chức năng hai bên đã duy trì và đảm bảo tốt công tác liên lạc cảnh vụ; phối hợp điều tra, xác minh, giải quyết các vụ việc phát sinh trên tuyến biên giới.
Tại buổi tọa đàm hai bên đã trao đổi một số nội dung như: tăng cường giao lưu hữu nghị, hợp tác trong lĩnh vực Nông nghiệp, việc phối hợp quảng bá du lịch, quản lý biên giới, các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao, hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, quản lý lao động qua biên giới. Cũng tại buổi hội đàm hai huyện Đồng Văn và huyện Phú Ninh cũng đã ký kết biên bản ghi nhớ với các nội dung 2 bên đã thống nhất. Trong đó có nhiều nội dung quan trọng về việc tăng cường hơn nữa việc hợp tác phát triển trong thời gian tới.
Thiện Ngay
GƯƠNG NGƯỜI TỐT - VIỆC TỐT
Nỗ lực giảm nghèo tại xã Hố Quáng Phìn
Xã Hố Quáng Phìn là một xã nội địa nằm ở phía Nam của huyện Đồng Văn, xã có 09 thôn với tổng 666 hộ, trong đó hộ nghèo chiếm trên 64%. Cùng với các cơ chế chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước cùng sự nỗ lực vươn lên của người dân đã tạo chuyển biến tích cực trên các mặt của đời sống xã hội, từng bước giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
Gia đình anh Mua Nhìa Chứ, thôn Tả Sán, xã Hố Quáng Phìn là một trong những hộ tiêu biểu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao. Được sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền xã anh đã lựa chọn mô hình chăn nuôi bò vàng địa phương kết hợp nuôi lợn đen bản địa. Ngoài ra, anh còn cải tạo vườn tạp trồng gối vụ các loại rau, chanh, sâm khoai cùng với sự cần cù chịu khó gia đình anh đã có mức thu nhập gần 100 triệu đồng một năm.
Tận dụng lợi thế về đất đai màu mỡ gia đình anh Vàng Phàn Pó, thôn Chín Trù Ván đã trồng hơn 1 héc ta cây rau bắp cải để nâng cao thu nhập. Trước đây, diện tích đất của gia đình chỉ canh tác đơn thuần là trồng ngô thu nhập thấp sau khi chuyển đổi diện tích từ trông ngô sang trồng bắp cải đã mang lại thu nhập gấp 3 - 4 lần. Ngoài ra, gia đình anh còn chăn nuôi lợn, bò và gia cầm nhờ có đầu ra ổn định đã giúp gia đình anh có thu nhập từ 100 đến 120 triệu đồng một năm.
Bằng sự quyết tâm, nỗ lực của cấp ủy chính quyền và người dân đến nay trên địa bàn xã đã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế có thu nhập từ 50 đến 100 triệu đồng một năm. Điển hình như như mô hình chế tác khèn mông; mô hình nuôi bò vỗ béo tại thôn Tả Cồ Ván; mô hình chăn nuôi lợn đen địa phương tại các thôn Phỉnh Cồ Ván, Tả Phìn, Tả Sán. Từ sự hiệu quả của những mô hình trên đã góp phần tuyên truyền và nhân rộng đến các thôn, xóm, qua đó từng bước góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn.
Có thể nói, bằng sự nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong quyết tâm giảm nghèo của địa phương đến nay đã có những thay đổi tích cực. Tuy nhiên, để giảm nghèo nhanh, bền vững trong thời gian tới bên cạnh sự quyết tâm, nỗ lực của cấp ủy, chính quyền thì yếu tố quan trọng nhất là ý chí vươn lên thoát nghèo của chính người dân. Tin tưởng rằng, với những giải pháp đồng bộ, hiệu quả, công tác giảm nghèo trên địa bàn xã Hố Quáng Phìn sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực, tiến đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
Thiện Ngay - Đức Chung - TTVHTT&DL
ĐỊNH HƯỚNG MỘT SỐ NHIỆM VỤ
TRỌNG TÂM THÁNG 9/2024
1. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mới ban hành
- Chỉ thị số 38-CT/TW, ngày 30/7/2024 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
- Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI "Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế".
- Nghị định số 88/2024/NĐ-CP, ngày 13/7/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 77/2024/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 của Chính phủ sửa đổi mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng.
2. Tuyên truyền công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị
- Đẩy mạnh tuyên truyền các nội dung về lĩnh vực thời sự, chính trị, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị về hoạt động của lãnh đạo tỉnh. Tập trung tuyên truyền bài viết: “Quyết tâm xây dựng đảng vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; kết quả chuyến thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa nhân dân Trung Hoa của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 18 đến ngày 20/8/2024.
- Tuyên truyền về những thành tựu to lớn, bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam trong 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên truyền về những thành tựu nổi bật của tỉnh Hà Giang sau 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 8 Lời Bác Hồ căn dặn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang.
- Tuyên truyền công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh Hà Giang, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
- Tiếp tục tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tích cực sáng tác, gửi các tác phẩm tham gia Giải báo chí về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) của Đảng bộ tỉnh lần thứ 3, năm 2024; Cuộc thi sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với 8 lời Bác Hồ căn dặn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang giai đoạn II, năm 2022 - 2024”; Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ 5, năm 2024 - 2025...
3. Tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- Tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của các cấp, các ngành trong tháng 9 và 9 tháng, nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2024.
- Tuyên truyền Lễ khai giảng năm học 2024 - 2025 và Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường (05/9/2024). Chú trọng tuyên truyền nhiệm vụ trọng tâm của năm học, huyện đã đạt được trong những năm qua; sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo; nỗ lực của ngành giáo dục và đào tạo khắc phục khó khăn để thực hiện sứ mệnh cao cả "trồng người" phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo" của dân tộc...
- Tuyên truyền, vận động người dân tích cực nêu cao tinh thần cảnh giác, phòng ngừa, tố giác tội phạm; phòng, chống cháy nổ; phòng cháy, chữa cháy; tệ nạn xã hội, tín dụng đen; hoạt động bán hàng đa cấp; công tác bảo đảm an toàn giao thông... Tiếp tục tuyên truyền Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia (giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030)...
- Tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển, đảo, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên biển theo luật pháp quốc tế.
4. Tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm, trong tháng 9 năm 2024
- Đẩy mạnh tuyên truyền kỷ niệm 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2024) và 55 năm Ngày mất của Người (02/9/1969 - 02/9/2024).
- Tuyên truyền Kỷ niệm 79 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2024).
- Tuyên truyền kỷ niệm 65 năm lễ khởi công xây dựng con đường Hạnh phúc (10/9/1959 - 10/9/2024); kỷ niệm 79 năm ngày thành lập thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam (07/9/1945 - 07/9/2024); 69 năm Ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955 - 10/9/2024); Ngày Quốc tế xóa nạn mù chữ (8/9); Ngày Quốc tế Dân chủ (15/9); Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozone (16/9); Ngày Quốc tế Hòa bình (21/9); Ngày Du lịch Thế giới (27/9).
Căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, cơ quan, đơn vị, các chi, đảng bộ lựa chọn, bổ sung nội dung để thực hiện tuyên truyền đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
Ban Tuyên giáo Huyện ủy
